Thế nào là chế độ ăn uống hợp lý

  • on Tháng Bảy 31, 2018

Ãn uông hợp lí nhằm cung cấp cho cơ thê đủ chất, các chất không quá thiếu, cũng không quá thừa. Trong một đơn vị thời gian nhất định cơ thể cần một tỉ lệ cân đôì các chất dinh dưỡng, nếu thiêu một chất thì các chất khác được hấp thụ rất hạn chế. Thực phẩm nào cũng cô nhiều chất dinh đưõng song vổi tỉ lệ ít nhiều khác nhau, ngay những thực phẩm quí như thịt, cá, trứng, sữa v.v… cũng chưa phải là đầy đủ các chất dinh dưỡng. Vì vậy trong khẩu phần ăn phải có hỗn hợp các lương thực, thực phẩm, không những làm táng hương vị thơm ngon, bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau mà còn có tác dụng hỗ trợ nhau, chất nọ làm tàng giá trị hấp thụ, đồng hóa của cơ thế dối với chất kia.
Ngoài ra để hấp thụ thực phẩm đã ăn chúng ta còn phải chú ý phát huy yêu tố tinh thần trong lĩnh vực này. Sự kích thích các giác quan như bàn ăn sạch sẽ, bát đũa thơm tho, các món ăn được bày hiện đẹp mắt, hương vị thơm ngon sõ kích thích sự thèm ăn và dịch vị của người ăn do đó tiêu hóa, hấp thụ thức ăn tốt hơn.

>>>>Xem thêm: Vì sao Phần Lan có nền giáo dục tốt nhất thế giới?

Chê độ ăn uống hợp lí là chế độ ăn phù hdp vôi từng loại lao động, từng lứa tuổi, khí hậu v.v… Với mỗi loại lao động khác nhau, ăn uống đòi hỏi khác nhau, nhu cầu nàng lượng và các chất dinh dưỡng khác nhau.
Người Việt Nam lao động đặc biệt như phi công lái máy bay, thợ lặn… nhu cầu năng lượng là 3800 + 4200 kcal/ngày với tỉ lệ năng lượng của các chất p : L : G = 14 : 16 : 70.
Với lao động nặng A nhu cầu năng lượng 3400 – 3600 kcal/ngày, tỉ lệ náng lượng của các chất p : L : G = 14 : 14 : 72. Với lao động nhẹ nhu cầu 2200 + 2400 kcaì/ngày, tỉ lệ năng lượng của các chất P:L:G = 12:12:76. Trong đó prôtêin động vật chiếm ít nhất 30% tổng số prôtêin, lipit thực vật nên chiếm 50% so với tổng số lipit.
Với các lứa tuổi khác nhau nhu cầu nàng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi khác nhau. Các món án chế biên cũng đòi hỏi khác nhau về khẩu vị, trạng thái… người trẻ thích ăn những món giòn, dai còn người già thích ăn những món mềm nhừ.


Ăn uống của con người còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, về mùa hè khí hậu nóng bức nhu cầu về nước tăng lên, chất béo giảm xuống. Do đó người ta thích àn những món có nước, ít m3. Còn về mùa đông thời tiết lạnh nhu cầu chất béo và gluxít tăng lên thích ân những món ăn khô như xào, rán V.V..

>>>>Xem thêm: 114 câu thường ngày của người Trung Quốc

KỸ THUẬT CHÊ BIẾN CÁC MÓN ĂN RAU, CỦ, QUẢ

I – Lựa chọn rau, củ, quả
Rau, củ, quả nén chọn loại chính vụ, tươi, non, không bị dập nát, sâu… Còn tùy theo yêu cầu của chế biên mà lựa chọn mức độ non, già của chúng có khác nhau.
1. Rau ăn lá và thân
– Bắp cải: Có nhiều loại: bánh dày, bắp chuối, Nhật… chọn cây cuộn chặt, lá dày, cuống nhỏ, đầu lá khép kín vào vối nhau. Nếu dùng để muối dưa, trộn nộm chọn loại lá bánh tẻ, nếu dùng đe chế biến nhiệt thì dùng loại non.
■ Rau cải: Phô biến là cài sen, cải bẹ, cải thìa, cải làn… Nên chọn cây bẹ to, lá xanh. Nếu đem chế biên nhiệt thì dùng loại non, muối dưa thì chọn loại bánh tẻ.
■ Rau cải thảo: Chọn cây bẹ to, mập, lá trắng, cuộn chặt.
– Rau ăn sống: Xà lách chọn cây cuộn chặt, lá dày trắng, giòn và tươi.
Rau diếp chọn cây không bị xoăn, không già hoặc non quá.
– Rau muông: Có hai loại giông thân trắng và giống thân đò chọn rau dốt dài, Lá nhỏ, thân trắng, rất non, loại rau “thân giá, lá dăm”. Ố Sơn Tây có loại rau muống rất ngon này, còn gọi là rau muống tiến.
– Giá đồ: Dùng dể ăn sống, muối dưa, chế biến nhiệt, chọn loại thán mập, trắng, ít rễ đen, hạt đỗ nhỏ.

>>>>Xem thêm: Cách làm các món tráng miệng ngon nhất thế giới

■ Rau mồng tơi, rau đay, rau ngót, rau cải cúc, rau cai xoong, chọn cây xanh, non, tươi, không sâu, không úa, mới thu hoạch.
Cần táy, tỏi tây: Loại rau thơm để xào tái, nấu canh, nấu xúp… Cần tây chọn thân, cành mập, màu xanh, lá non.
Tỏi tâv chọn củ to, mập, trắng.
– Rau cần ta chỉ có ở miền Bắc vào các tháng 11, 12, 1, 2 trong nãm, chon cây trang đốt dài.

Article Categories:
CÔNG THỨC NẤU ĂN

Comments are closed.